Số tiền mà nhà đầu tư cần đầu tư vào chương trình EB-5

Nhà đầu tư cần đầu tư tối thiểu 1 triệu đô la, tuy nhiên, nếu đầu tư vào Khu vực việc làm mục tiêu (TEA) hoặc khu vực nông thôn đủ tiêu chuẩn, thì ứng viên EB-5 có thể chỉ cần đầu tư 500.000 đô la. Hầu hết các khoản đầu tư Trung tâm khu vực CMB đều nhắm vào TEA và đủ tiêu chuẩn để áp dụng mức đầu tư 500.000 đô la. Tuy nhiên, có một số mục tiêu đầu tư không nằm trong TEA và cần 1.000.000 đô la. EB-5 xác định khu vực thất nghiệp cao là khu vực có tỉ lệ thất nghiệp bằng hoặc hơn 150% mức thất nghiệp trung bình của cả nước. Nếu chỉ có thư xác nhận khu vực thất nghiệp cao do tiểu bang gửi thì sẽ không đủ. Khu vực hợp chuẩn phải được chứng minh bằng dữ liệu thống kê có thể xác minh được.

Yêu cầu về việc làm đối với mỗi nhà đầu tư là mười việc làm Hoa Kỳ mới.

Mỗi nhà đầu tư EB-5 là cư dân nước ngoài phải tạo ra tối thiểu mười việc làm Hoa Kỳ toàn thời gian. Nếu không đầu tư thông qua Trung tâm khu vực được phê chuẩn thì số việc làm đó phải thuộc dạng trực tiếp trong doanh nghiệp cụ thể nhận vốn đầu tư EB-5. Nếu nhà đầu tư đầu tư thông qua Trung tâm khu vực, thì yêu cầu vẫn là mười việc làm; tuy nhiên, nhà đầu tư có thể dùng cả phương pháp tạo việc làm trực tiếp lẫn gián tiếp để đáp ứng yêu cầu này của USCIS. Ngoài ra, Trung tâm khu vực còn có thể dùng các phương pháp kinh tế hợp lý để chứng minh là đã tạo việc làm gián tiếp.

Nguồn vốn đầu tư của nhà đầu tư phải là nguồn hợp pháp.

Nhà đầu tư phải chứng minh số vốn của mình thực sự đến từ nguồn hợp pháp. Ví dụ, vốn này không phát sinh từ các doanh nghiệp phạm tội. Nhà đầu tư có thể nhận tiền vốn dưới dạng quà tặng; tuy nhiên, USCIS sẽ yêu cầu cung cấp thông tin và sẽ theo dõi nguồn vốn từ người tặng quà. Tiền cho vay cũng là nguồn vốn tin cậy được, nhưng khoản đầu tư vào doanh nghiệp không thể được dùng làm tài sản thế chấp hoặc bị cầm cố dưới bất kỳ dạng nào, và khoản cho vay đó phải là khoản cho vay khả thi về mặt thương mại trên “thực tế”.

Khoản đầu tư phải có rủi ro.

Khoản đầu tư vốn của ứng viên EB-5 phải thực sự có rủi ro. Luật EB-5 nghiêm cấm việc đảm bảo hoàn trả bất kỳ phần vốn nào cho nhà đầu tư. Điều này bao gồm việc mua lợi tức nhà ở hoặc căn hộ vì như vậy sẽ cấu thành thỏa thuận bồi thường. Nếu đảm bảo hoàn trả vốn đầu tư EB-5 thì sẽ vi phạm yêu cầu “có rủi ro” trong luật EB-5 và đơn đăng ký của nhà đầu tư sẽ bị từ chối. Thêm nữa, không được có thỏa thuận bồi thường hoặc tài khoản dự phòng. Doanh nghiệp cũng phải đáp ứng các yêu cầu đối với doanh nghiệp thương mại mới.

Doanh nghiệp mới được định nghĩa là doanh nghiệp được thành lập sau ngày 29 tháng 11 năm 1990, và phải là doanh nghiệp vì lợi nhuận được thành lập để tiến hành hoạt động kinh doanh hợp pháp. Trong một số trường hợp, thay vì thành lập doanh nghiệp mới, luật pháp cho phép mở rộng doanh nghiệp đã tồn tại, cũng như giữ lại việc làm Hoa Kỳ bằng cách đầu tư vào một doanh nghiệp “gặp khó khăn” theo định nghĩa riêng.

Luật pháp quy định nhà đầu tư là cư dân nước ngoài phải tham gia quản lý doanh nghiệp thương mại mới.

Ứng viên phải tham gia vào việc quản lý doanh nghiệp thương mại mới. Đây là lý do khiến hầu hết các khoản đầu tư Trung tâm khu vực đều được thực hiện qua các hợp danh hữu hạn, nếu trở thành người tham gia vào một hợp danh hữu hạn (L.P.) thì sẽ đáp ứng yêu cầu của USCIS về việc nắm vai trò quản lý hợp danh. Hầu hết các L.P. đều yêu cầu đối tác hữu hạn phải bỏ phiếu về một số vấn đề quan trọng.

Nhà đầu tư có cần phải đủ tiêu chuẩn là nhà đầu tư được công nhận hay không?

Để tuân theo quy định của một số cơ quan chính phủ, nhà đầu tư nên có đủ kiến thức để hiểu các vấn đề phức tạp liên quan đến dạng đầu tư này. Theo đó, để kiểm tra xem bản thân có phải là nhà đầu tư được công nhận hay không, nhà đầu tư phải xem xét các đòi hỏi dành cho nhà đầu tư được công nhận. Ví dụ về nhà đầu tư “được công nhận, theo định nghĩa của thuật ngữ này trong Quy định D của Đạo luật chứng khoán, là nhà đầu tư đáp ứng được tối thiểu một trong các điều kiện sau đây:

  1. một thể nhân có giá trị thuần cá nhân (hoặc giá trị thuần kết hợp với vợ/chồng, tùy trường hợp) tại thời điểm mua đơn vị cao hơn 1.000.000 đô la hoặc
  2. một thể nhân có thu nhập cá nhân cao hơn 200.000 đô la hoặc thu nhập kết hợp với vợ/chồng cao hơn 300.000 trong mỗi năm trong hai năm gần nhất và có cơ sở hợp lý để dự kiến thu nhập năm hiện tại sẽ cao hơn 300.000 đô la; hoặc
  3. bất kỳ “nhà đầu tư được công nhận” nào khác theo định nghĩa trong Quy định D được áp dụng bởi Ủy ban chứng khoán và giao dịch; hoặc
  4. có đủ kiến thức và kinh nghiệm về lĩnh vực tài chính và kinh doanh để có thể đánh giá cơ hội và rủi ro của khoản đầu tư vào các Đơn vị, và để đưa ra quyết định đầu tư hợp lý, mà không cần sử dụng Đơn vị đại diện mua.

Có các yêu cầu khác trong chương trình đầu tư EB-5 quy định về việc gửi hồ sơ và trình giấy tờ cho USCIS. Nhà đầu tư di trú nên thuê luật sư di trú EB-5 để làm việc với Trung tâm khu vực nhằm đảm bảo tuân thủ các quy định và luật EB-5 khi gửi đơn đăng ký.

Nhà đầu tư xin lưu ý và cẩn trọng: Nếu phí quản lý trả cho Trung tâm khu vực bao gồm cả phí thuê luật sư di trú thì có thể nảy sinh xung đột lợi ích rất lớn giữa Trung tâm khu vực và quý vị – nhà đầu tư/người đăng ký. CMB yêu cầu nhà đầu tư EB-5 có luật sư riêng để hỗ trợ cho họ một cách độc lập.