Câu Hỏi Thường Gặp

Những FAQ (câu hỏi thường gặp) này chỉ dùng để cung cấp thông tin và không nên xem là nội dung tư vấn pháp lý. Theo đó chúng tôi chân thành khuyến khích các nhà đầu tư tiềm năng nhờ luật sư di trú được cấp phép tư vấn.

Nhà đầu tư không cần phải có kinh nghiệm kinh doanh trước. Về mặt này, yêu cầu đối với nhà đầu tư là họ có kinh nghiệm đầu tư hoặc có khả năng hiểu được các tài liệu giao dịch trong chương trình đầu tư EB-5 và có vốn cũng như giá trị thực tế cần thiết để thực hiện đầu tư.

Không, năng lực sử dụng tiếng Anh không phải là một yêu cầu; tuy nhiên, nhà đầu tư nên tìm người hỗ trợ dịch thuật (bạn bè, luật sư, thành viên gia đình) để đọc các tài liệu, vì tiếng Anh là ngôn ngữ sử dụng chính thức trong các tài liệu giao dịch EB-5. Xin vui lòng liên hệ văn phòng chúng tôi để biết thêm thông tin nếu có thắc mắc.

Có. Quý vị phải thực hiện và vượt qua kỳ kiểm tra sức khỏe, đây là một phần của quy trình xem xét Lãnh sự trược khi nhận Thị thực EB-5 có điều kiện.

Theo quy định USCIS, nhà đầu tư phải chứng minh tải sản có nguồn gốc hợp pháp. Điều này yêu cầu nhà đầu tư chứng minh là nguồn vốn đầu tư xuất phát từ các nguồn hợp pháp như kinh doanh, tiền lương, đầu tư, bán bất động sản, thừa kế, quà tặng, khoản cho vay, hoặc các phương thức hợp pháp khác.

Có, với điều kiện phải trả các khoản thuế áp dụng cho quà tặng. Phải chứng minh món quà là một giao dịch công minh, không phải là mánh khóe và số tiền được tặng sẽ không trả lại người tặng sau khi có được tình trạng thường trú nhân.

Theo quy định, nhà đầu tư nếu gửi đơn đăng ký I-526 với USCIS và được phê chuẩn thì phải vượt qua vòng phỏng vấn lãnh sự sau này, khi đó và chỉ khi đó, người di trú EB-5 mới được nhận Thẻ xanh “có điều kiện”. Thẻ xanh “có điều kiện” được gọi là Thẻ xanh “vĩnh viễn có điều kiện” và mang lại các quyền lợi và đặc quyền tương tự như của công dân Hoa Kỳ; tuy nhiên, nó bao gồm các yêu cầu khắt khe khi thường trú ở Hoa Kỳ trong khoảng hai năm. Một năm chín tháng sau khi thẻ này được cấp, khoảng thời gian ba tháng sau đó là lúc người có thẻ phải gửi đơn đăng ký khác (đơn I-829) tới USCIS để xác nhận rằng toàn bộ vốn yêu cầu đã được đầu tư trong suốt khoảng thời gian thường trú có điều kiện và yêu cầu tạo ra mười việc làm mới cho người Hoa Kỳ đã được đáp ứng. Khi tình trạng thường trú có điều kiện được phê chuẩn sau đó, thì tình trạng thường trú vô điều kiện và Thẻ xanh vĩnh viễn sẽ được cấp. Thẻ xanh vĩnh viễn ít có giới hạn đối với thường trú nhân Hoa Kỳ thực thụ.

Khi đơn I-526 được phê chuẩn, ứng viên phải chờ thông báo từ Lãnh sự quán Hoa Kỳ ở quốc gia gốc để chuẩn bị tài liệu phỏng vấn cấp Thị thực. Mục đích của quy trình này là để đảm bảo nhà đầu tư và thành viên trong gia đình của nhà đầu tư thực hiện các bước kiểm tra về y tế, cảnh sát, an ninh và cả các bước kiểm tra về lịch sử di trú trước khi được nhận thị thực thường trú nhân có điều kiện. Tại buổi phỏng vấn, cán bộ lãnh sự có thể hỏi về các vấn đề này và những thông tin in trên đơn I-526, bao gồm các câu hỏi yêu cầu nhà đầu tư giới thiệu tổng quát và tóm tắt bản chất khoảng đầu tư di trú của họ. Nếu nhà đầu tư hoặc thành viên trong gia đình của nhà đầu tư đang ở Hoa Kỳ, thì nhà đầu tư có thể đăng ký điều chỉnh tình trạng thường trú bằng cách gửi đơn I-485, và chứng từ hỗ trợ, có thể gửi đơn đăng ký ở văn phòng USCIS phù hợp.

Nếu từng bị từ chối trong quá khứ thì ứng viên vẫn không bị hủy tiêu tư cách, trừ khi các nguyên nhân từ chối có liên quan đến hành động lừa đảo hoặc các vấn đề nghiêm trọng khác. Quan trọng nhất là ứng viên cần tiết lộ tất cả các vấn đề quá khứ về tội hình sự, y tế hoặc di trú Hoa Kỳ cho hợp danh hữu hạn và cố vấn pháp lý về di trú trước khi tiến hành đăng ký.

Thành viên gia đình có thể phỏng vấn ở các quốc gia khác nhau. Quốc gia gốc hoặc nơi mà gia đình hiện tại đang có liên hệ sẽ là nơi phỏng vấn tiêu chuẩn. Thường có một thành viên gia đình sống ở nước khác, như là sinh viên theo học ở Hoa Ký chẳng hạn. Sinh viên không cần về nước và có thể điều chỉnh tình trạng ở Hoa Kỳ tại văn phòng USCIS cấp quận.

Chồng, vợ và con cái chưa kết hôn dưới 21 tuổi, nếu người con đang ở độ tuổi dưới 21 vào thời điểm gửi đơn I-526. Lưu ý: Nếu tiến trình xử lý vượt quá thời gian nhất định, thì người con có thể quá 21 tuổi và không còn đạt tiêu chuẩn. Hãy nhờ cố vấn di trú của quý vị tư vấn để biết thêm thông tin. Có thể bao gồm cả con nuôi vào gia đình. Khi được phê chuẩn, quý vị sẽ nhận tài liệu chứng nhận phê chuẩn và chứng từ đi lại. Quý vị cũng sẽ nhận được một Thẻ xanh tạm thời đi kèm theo mail.

Các vấn đề khó khăn thường gặp nhất phát sinh do thiếu tài liệu chứng từ về nguồn cung cấp vốn đầu tư. Nhiều người cố gắng tiết lộ càng ít thông càng tốt để cuối cùng hồ sơ bị hoàn trả kèm theo yêu cầu cung cấp thêm thông tin. Tốt nhất là cung cấp quá nhiều thông tin thay vì quá ít. Trong thời đại cảnh giác cao về khủng bố và vấn nạn rửa tiền như hiện nay, các cán bộ kiểm tra hồ sơ của USCIS luôn luôn yêu cầu ứng viên có hồ sơ trình bày rõ ràng nguồn cung cấp vốn.

Khi được cấp Thẻ xanh, và trở thành thường trú nhân, thì quý vị có hầu hết các quyền và nghĩa vụ như công dân Hoa Kỳ, trừ quyền bầu cử và một số phúc lợi chung. Quý vị phải tuân thủ các yêu cầu khai báo thuế và được hưởng lãi suất và khấu hao thuế tương tự như với công dân Hoa Kỳ. “Thẻ xanh” là chứng từ quan trọng để xác định nhân thân và dùng khi đi lại. Khi Thẻ xanh được cấp, xin vui lòng kiểm tra thật kỹ. Quý vị có thể cần gia hạn trong vòng mười năm. Nếu cần thay thẻ trước thời gian đó do thẻ bị mất, đánh cắp hoặc bị hỏng, thì quý vị có thể gửi đơn lên USCIS. Một trong các quyền lợi quan trọng nhất và thường trú nhân hợp pháp có được là quyền trở thành công dân Hoa Kỳ sau năm năm. Có hai cách trở thành công dân Hoa Kỳ. Một là sinh ra ở Hoa Kỳ hoặc là con ruột của công dân Hoa Kỳ. Cách còn lại là bằng quy trình tự nhiên hóa. Bước đầu tiên để trở thành công dân Hoa Kỳ thông qua con đường tự nhiên hóa là trở thành một Thường trú nhân hợp pháp (Legal Permanent Resident (LPR). Một trong các yêu cầu cơ bản để đáp ứng các tiêu chuẩn về quá trình tự nhiên hóa là quý vị phải thuộc diện thường trú nhân hợp pháp trong năm năm. Yêu cầu thứ hai là quý vị phải thực sự có mặt ở Hoa Kỳ suốt ba mươi tháng trong khoảng thời gian năm năm trước khi đăng ký thủ tục tự nhiên hóa. Khi đã trở thành công dân Hoa Kỳ, quý vị được quyền hưởng tất cả các phúc lợi bao gồm quyền bầu cử và nắm giữ các vị trí công chức.

Một khi quý vị nhận được Thẻ xanh, chỉ có hai điều kiện cần thiết để giữ nó cả đời. Đầu tiên, quý vị không được nằm trong diện có thể loại bỏ hoặc diện không được chấp nhận. Con đường quen thuộc dẫn tới diện này là phạm tội nghiêm trọng. Yêu cầu thứ hai là quý vị không được từ bỏ nơi thường trú là Hoa Kỳ. Chừng nào quý vị không có ý định thường trú ở nơi khác, thì theo pháp luật, quý vị vẫn là công dân Hoa Kỳ. Nguyên tắc chung là, nếu quý vị có Thẻ xanh và rời Hoa Kỳ lâu hơn một năm, thì việc vào lại Hoa Kỳ có thể sẽ rất khó khăn. Đó là vì USCIS cảm thấy việc vắng mặt lâu hơn một năm có thể là dấu hiệu cho thấy sự từ bỏ tình trạng thường trú ở Hoa Kỳ. Để tránh bị thanh tra toàn diện, quý vị nên trở về trong vòng sáu tháng. Có một quan niệm sai lầm đó là chỉ cần về Hoa Kỳ tối thiểu mỗi năm một lần thì có thể giữ Thẻ xanh. Sự thật là nếu rời Hoa Kỳ với ý định chọn quốc gia khác làm nơi thường trú của mình thì quý vị đã từ bỏ tình trạng thường trú ở Hoa Kỳ khi đi. USCIS sẽ quan sát động thái của quý vị để phát hiện dấu hiệu cho thấy nơi thường trú thật sự của quý vị không phải là Hoa Kỳ. Mặt khác, nếu chỉ sống ở ngoài Hoa Kỳ trong khoảng thời gian dài hơn một năm thì không có nghĩa là quý vị đã tự động từ bỏ Thẻ xanh của mình. Nếu từ đầu quý vị đã dự tính sự vắng mặt này chỉ là tạm thời, thì quý vị vẫn có thể giữ tình trạng thường trú nhân. Tuy nhiên, quý vị có khả năng không thể sử dụng Thẻ xanh làm chứng từ vào Hoa Kỳ được nữa. Quý vị phải đăng ký với lãnh sự quán Hoa Kỳ để được cấp thị thực di trú đặc biệt với cương vị là một thường trú nhân quay trở về nước hoặc quý vị phải đăng ký để được cấp chứng từ gọi là giấy cấp phép về lại nơi thường trú.

Có thể. Nguyên tắc chính về vấn đề Thẻ xanh là quý vị sẽ mất thẻ nếu từ bỏ tình trạng thường trú ở Hoa Kỳ. Tuy vậy, có một tiêu chuẩn phổ biến hơn, đó là căn cứ theo thời gian. Có ba giới hạn thời gian quan trọng cần biết:

  • Nếu thời gian quý vị vắng mặt ít hơn sáu tháng, thì quý vị hiếm khi gặp phiền phức. Việc chứng minh quý vị từ bỏ tình trạng thường trú hoàn toàn do USCIS quyết định. Nếu không, thì quý vị được xem là chưa bao giờ rời đi.
  • Nếu thời gian quý vị vắng mặt nhiều hơn sáu tháng nhưng ít hơn một năm, thì gánh nặng phải chứng minh đổi sang phía quý vị. Quý vị phải chứng minh rằng mình vẫn là thường trú nhân. Điều này dựa trên cơ sở là sau sáu tháng, quý vị phải được tái công nhận và phải chứng minh là có thể được công nhận. Một lưu ý thêm là, trường hợp vắng mặt lâu hơn sáu tháng sẽ bị áp dụng nhiều tiêu chuẩn về khả năng công nhận. Và nếu trong thời gian đó quý vị thuộc diện không thể công nhận, giả sử bị nhiễm HIV, thì sẽ có vấn đề.
  • Nếu vắng mặt trong khoảng thời gian nhiều hơn một năm, quý vị sẽ bị xem là gần như tự động từ bỏ Thẻ xanh. Một khi chuyện đó xảy ra, thường không có cách nào khắc phục. Tuy nhiên, nếu do tình huống nào đó mà cán bộ di trú không hỏi quý vị đã rời khỏi Hoa Kỳ bao lâu khi quý vị trở về, thì quý vị có thể đã gặp may mắn và có thể giữ được Thẻ xanh. Trong trường hợp này, quý vị nên ở Hoa Kỳ trong thời gian thật lâu, và để tình trạng thường trú được tốt đẹp trở lại.

Quý vị có thể đăng ký giấy phép trở về nơi thường trú (theo mẫu I-131) trước khi rời khỏi Hoa Kỳ, quý vị có thể lên đường trước khi giấy phép này được phê chuẩn. Với giấy phép này, quý vị có thể trở về Hoa Kỳ thậm chí sau một năm cho đến khi giấy phép hết hạn. Giấy phép trở về nơi thường trú được cấp để sử dụng trong hai năm. Quý vị không thể làm mới giấy phép, nhưng có thể trở về Hoa Kỳ trong thời gian ngắn và đăng ký giấy phép mới. Giấy phép đăng ký lần thứ hai cũng sẽ dùng được cho hai năm, nhưng giấy phép đăng ký sau đó có thể chỉ dùng cho một năm một lần.

Câu hỏi này có nhiều câu trả lời. Nếu quý vị được cấp Thẻ xanh qua hôn nhân, và chưa chưa kết hôn trong vòng hai năm khi nhận Thẻ xanh, quý vị sẽ được cấp Thẻ xanh có điều kiện với thời gian hiệu lực hai năm. Và, nếu được cấp Thẻ xanh qua đầu tư (EB-5), quý vị cũng sẽ có Thẻ xanh có điều kiện với thời gian hiệu lực hai năm như vậy. Quý vị phải đăng ký loại bỏ điều kiện trong khoảng thời gian chín mươi ngày cuối trước khi thời hạn hai năm chấm dứt. Khi đơn đăng ký này được phê chuẩn, quý vị có được Thẻ xanh vô điều kiện. Nếu quý vị đăng ký quá sớm hoặc quá trễ, thì sẽ gặp trục trặc và nên nhờ luật sư tư vấn. Nếu quý vị không loại bỏ điều kiện trên thẻ, thì Thẻ xanh sẽ hết hạn sau khi thời gian hai năm kết thúc, và tình trạng thường trú nhân của quý vị sẽ chấm dứt. Thẻ xanh vô điều kiện có hiệu lực sử dụng cho mười năm. Điều này không có nghĩa là sau mười năm, quý vị không còn là thường trú nhân hợp pháp – chỉ là cái thẻ bị hết hiệu lực. Quý vị phải đăng ký hẻ mới bằng mẫu đơn I-90. Nếu không có Thẻ xanh hiện tại, quý vị không thể dùng Thẻ xanh để rời khỏi Hoa Kỳ, và quý vị cũng không thể dùng Thẻ xanh làm bằng chứng cho thấy quý vị được cho phép làm việc.

Yêu cầu đầu tiên đối với nhà đầu tư sau khi họ nhận thị thực tại văn phòng lãnh sự của Hoa Kỳ ở nước ngoài là phải vào Hoa Kỳ trong vòng 180 ngày sau khi lãnh sự cấp thị thực cho họ. Sau đó, nhà đầu tư phải thiết lập tình trạng thường trú tại Hoa Kỳ. Bằng chứng thể hiện ý định thường trú bao gồm mở tài khoản ngân hàng, đăng ký lấy bằng lái xe hoặc số an ninh xã hội, thanh toán thuế thu nhập ở cấp tiểu bang và liên bang, thuê nhà hoặc mua nhà. Thường trú nhân Hoa Kỳ có thể làm việc ở nước ngoài nếu cần thiết tùy theo bản chất của công việc hoặc ngành nghề. Đối với những thường trú nhân sinh sống bên ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ, chúng tôi đề xuất là họ cùng với các thành viên gia đình họ nên về lại Hoa Kỳ với tần suất không dưới sáu tháng một lần. Thời gian nhà đầu tư và gia đình có mặt ở Hoa Kỳ càng lâu thì càng ít có khả năng chính phủ cho rằng nhà đầu tư “từ bỏ” nơi thường trú là Hoa Kỳ – nếu chính phủ đánh giá như vậy thì có thể có ảnh hưởng nguy hiểm tới tình trạng Thẻ xanh của nhà đầu tư. Trong một số trường hợp, nhà đầu tư có thể đăng ký cấp “giấy phép trở về nơi thường trú” cho phép nhà đầu tư ở ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ với thời gian tối đa là hai năm mà không cần phải trở về để duy trì tình trạng thường trú nhân.

Cá nhân hoặc gia đình. (vợ/chồng và con cái chưa kết hôn với độ tuổi dưới 21) có thể được cấp tình trạng thường trú nhân. Con nuôi cũng có thể được tính vào gia đình.

Thời gian trung bình mà Chương trình EB-5 xử lý đơn đăng ký của khách hàng có thể kéo dài một năm hoặc có thể còn lâu hơn. Đơn đăng ký và yêu cầu ban đầu thường được phê chuẩn trong sáu tới tám tháng, với sự cân bằng thời gian cần thiết để hoàn thành các mẫu đơn của Bộ Nội vụ và Cơ quan Di trú và Nhập tịch Hoa Kỳ, cũng như để lên lịch cho buổi phỏng vấn.

Thời gian xử lý không cố định, có thể ít, chỉ vài tuần, có thể nhều, tới chín tháng. Chúng tôi không thể ước đoán hoặc hứa hẹn thời gian xử lý cụ thể. Quý vị nên tính toán với thời gian toàn bộ quy trình là xấp xỉ một năm cho tới một năm rưỡi.

Nhà đầu tư phải hoạt động “tích cực” trong công tác quản lý khoản đầu tư bằng cách tham gia quản lý công ty thương mại mới, như là kiểm soát quản lý hàng ngày hoặc xây dựng các chính sách. Tuy nhiên, luật pháp đặc biệt cho phép nhà đầu tư đạt tiêu chuẩn với tư cách là “đối tác hữu hạn” như định nghĩa trong Đạo luật hợp danh hữu hạn thống nhất điều chỉnh. Dự án đáp ứng tất cả các yêu cầu quy định bằng cách đưa nhà đầu tư vào chương trình đầu tư ở cương vị đối tác hữu hạn. Đối tác hữu hạn chỉ có một số nghĩa vụ đối với hợp danh như là quyền bầu cử hợp danh hữu hạn. Vai trò này được tinh giản nhưng vẫn đáp ứng các tiêu chuẩn của Chương trình EB-5. Vai trò hữu hạn này cho phép nhà đầu tư tiếp tục tham gia vào hoạt động kinh doanh của mình. Ngoài ra, nó cho phép nhà đầu tư sinh sống ở nơi họ muốn, và mang lại quyền lựa chọn đến hoặc rời Hoa Kỳ. Quan trọng nhất là, đối tác hữu hạn, tương tự như cổ đông trong các doanh nghiệp, chỉ chịu trách nhiệm với tập thể về khoản đầu tư đã thỏa thuận của mình. CMB sử dụng cơ cấu kinh doanh này để bảo vệ nhà đầu tư và đáp ứng các yêu cầu của luật EB-5.